Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. .rc{background:transparent;} div{background:transparent;} .rc_bd{background:transparent;} .rc_bc{background:transparent;} .rc_ft{background:transparent;} div{background:transparent;} .bd{background:transparent;}
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. .rc{background:transparent;} div{background:transparent;} .rc_bd{background:transparent;} .rc_bc{background:transparent;} .rc_ft{background:transparent;} div{background:transparent;} .bd{background:transparent;}
TRƯỜNG THCS HƯƠNG TOÀN
Tìm trên Google
Loading
Gốc > 20-11 >
Tình cảm quê hương trong thơ Hồ Chủ tịch
Tình cảm quê hương là tình cảm không thể thiếu trong bất cứ ai. Xưa nay vẫn thế. Đối với những người có tâm đức và hoài bão lớn thì yếu tố đó càng nồng hậu và thiết tha. Nguyễn Trãi đã viết trong bài Mạn hứng.
Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ
Phần hương đối án ổ mai hiên
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng,
Nguyệt mãn Bình Than, tửu mãn thuyền
(Quét tuyết đun trà bên trúc ổ,
Đốt hương đọc sách dưới mái hiên.
Đêm qua mộng vấn vương quê cũ,
Trăng đẫy Bình Than, rượu đẫy thuyền)
Nguyễn Du khi làm quan với nhà Nguyễn, ở một nơi xa cách, nhà thơ đã viết trong bài Sơn cư mạn hứng:
Nhất phiến hương tâm thiền cảnh hạ,
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.
Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,
Bất kiến bình an nhất chỉ thư.
(Lòng quê lai láng gương thiềm soi,
Biệt lệ đầm đìa tiếng nhạn qua.
Lòng cũ người thân tin tức vắng,
Bình yên mấy chữ thấy đâu mà)
Bài viết này chỉ nói riêng về tình cảm quê hương trong thơ Hồ Chủ tịch.
Hơn nữa thế kỷ xa nhà đi hoạt động cách mạng, lúc trở về Người nói:
Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.
Và ta sẽ không hiểu hết về thơ Hồ Chủ tịch nếu nghĩ quê hương của Người chỉ là những thôn làng cụ thể như làng Sen, làng Chùa hay xứ Nghệ. Quê hương trong Người là một khái niệm thật rộng lớn. Một quê hương cụ thể chỉ thật sự vươn mình khi gắn bó với mọi miền đất nước và với cả thế gian. Đọc thơ Bác dù là những bài viết về cảnh trí và con người ở nơi hải ngoại thì mỗi chúng ta cũng như thấy các vần thơ ấy nói đến quê mình, có lẽ vì Người ngàn dặm trông tre nhớ làng, nhớ nước; trông cau nhớ cửa, nhớ nhà (Cổ ngôn).
Cảnh hương thôn trong thơ Bác luôn nồng ấm hơi thở và cuộc sống của con người cần lao. Bài Bán lộ tháp thuyền phó Ung (Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung) là một ví dụ:
Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm .
Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.
(Làng xóm ven sông đông đúc thế.
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh)
Đọc hai câu thơ này ta liên tưởng đến Lý Bạch trong Tảo phát Bạch đế thành
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất tận
Khinh chu dĩ quá vạn trùng sơn.
(Hai bờ tiếng vượn vừa xong
Thuyền con đã vượt vạn trùng nước non)
So sánh như vậy thật là quá khập khiễng vì đem một nhà thơ Mácxít ở thế kỷ XX mà so sánh với một thi tiên đời Đường của nước bạn Trung Hoa. Nhưng giữa quá khứ và đương đại vẫn có một sự giao cảm tự nhiên về thi ca.
Ở đây, điều làm ta thú vị là hình ảnh những bà con thân thuộc với tiếng nói, tiếng cười trong cảnh đông đúc, trong thao tác mưu sinh trên bộ, hoặc đang rẽ sóng nhẹ thênh thênh. Huyện Ung của Trung Quốc sao mà giống một địa phương cũng có ruộng đồng, có ao chuôm của làng Việt.
Trong bài Vịnh Thái Hồ (Trung Quốc), nhà thơ Hồ Chí Minh cũng nghĩ về một miền quê rất Việt với bát cơm, tấm áo, với hình ảnh người dân chài, với hoa, cỏ như ở một làng quê ven sông Lam, sông Hồng:
Ngư thuyền lai khứ triều dương noãn
Tang đạo mãn điền, hoa mãn thiên
(Thuyền cá đi về trong nắng sớm
Ruộng đầy dâu lúa, trời đầy hoa)
Rồi khi chiều về rộn những âm thanh báo hiệu trong bài Hoàng hôn của Người:
Viễn tự chung thanh thôi khách bộ
Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy
Trong bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế cũng có tiếng chuông nghe xa vắng
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo thành thuyền
(Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)
Bác cũng có những câu thơ về dạ bán (nửa đêm) khi từ chiến khu quy lai, nguyệt mãn thuyền. Cũng như trong bài Hoàng hôn thì tiếng chuông chùa không chỉ âm vang nơi thiền tự mà nó gắn liền với cuộc sống của người cần lao: Chùa xa chuông giục người nhanh bước. Tiếng chuông ở đây hòa với âm nhạc của mục đồng: Tiếng sáo bay giúp vào, làm cho con người năng động hơn. Đó là tiếng chuông từ làng Chùa, làng Sen, từ vùng quê đã sinh ra và nuôi lớn Người:
Đi qua vẳng tiếng chùa Bi
Nghe chuông chùa Đạt có khi hay gần.
và
Nhất là vui cảnh quê mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu.
Những buổi chiều hòa vào sức sống hồn hậu của con người còn đậu xuống thơ Hồ Chí Minh khi Người dừng chân trên đường. Qua bài Mộ (Chiều tối), ta hình dung ra môt thôn trang nào đó nhìn xuống những cánh đồng bắp của vùng đất Cây Chanh hay một quãng đồi ven sông Hiếu, sông Ngàn Sâu:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng)
Quê hương trong thơ Bác là những hình ảnh thật cụ thể gắn bó với cuộc sống đời thường, kể cả khi Người viết về núi rừng Tây Bắc:
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thì chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt chè tươi mặc sức say
Đó cũng là nét sinh hoạt khi mà:
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu
Huề dũng, giai đồng quán thái viên
(Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau)
Ta vẫn tưởng đây là một khu vườn nhà ở làng Sen, làng Chùa.
Đọc bài Ức hữu (Nhớ bạn) của Người, ta thấy rõ càng đi xa thì nỗi lòng nhớ quê hương càng da diết, nhất là khi khách lữ thứ gặp phải bước hiểm nghèo. Bấy giờ người ta không thể quên được bạn bè, bà con và cả mùa màng:
Tích quân tống ngã chí giang tân
Vấn ngã quy kỳ chỉ cốc tân
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo
Tha hương ngã tác ngục trung nhân
(Ngày đi bạn tiễn đến ven sông
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng
Nay gặt đã xong, cày đã khắp
Quê người tôi vẫn chốn lao lung)
Một hôm trên đường công tác, khuya về nghe tiếng ru con từ trong một làng nhỏ, Bác viết những câu thơ thật bồi hồi:
Xa nhà chốc bất nhiên niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con.
Tình cảm quê hương trong thơ Bác thật rộng lớn và cũng rất cụ thể. Điều đáng chú ý hơn nữa là trong thơ Người, khi nghĩ đến nhà là nhớ đến nước, Bác viết trong bài Tức cảnh:
Tổ quốc chung niên vô tín tức
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm
(Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng
Tin tức bên nhà bữa bữa trông)
Trong Bài ca dân cày sáng tác năm 1941, Bác Hồ viết:
Dịp này là dịp trời cho
Lo cứu nước tức là lo cứu mình
Đó cũng là lời khuyên của Người trong Bài ca công nhân:
Thợ thuyền ta phải đứng ra
Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.
Mình là bản thân, là gia đình, gắn với quê hương, đất nước. Thơ trong nhật ký của Bác đã chỉ ra:
Mắt trông nước mất nhà tan
Giống nòi sỉ nhục, giang sơn thẹn thùng.
Thơ là kết tinh của nghệ thuật ngôn từ. Ngôn từ của Hồ Chủ tịch vừa bình dị vừa uyên bác. Về quê, Người dùng cả tiếng địa phương mình để giải thích cho bà con nông dân rõ những hiện tượng cao siêu, những vấn đề phức tạp. Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc đến một nét suy nghĩ khi lần đầu được gặp Bác: “Điều làm cho tôi chú ý lúc bấy giờ là trong lời Bác nói có chen nhiều tiếng địa phương miền Trung. Không ngờ một người xa nước lâu năm như Bác mà vẫn giữ được tiếng nói quê hương.”
Thơ Bác viết về quê hương là những câu văn sâu nặng nghĩa tình mà rất dung dị, bình thường. Cũng như trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Bác, cái bình thường ấy đã tồn tại song song với cái vĩ đại của Người.
Bác viết về quê hương rất ít nên thơ Bác nói về quê hương lại càng hiếm. Đó là những viên ngọc quý nên chúng ta cần trân trọng gìn giữ và phải làm cho các vần thơ đó ngày càng lung linh tỏa sáng.
CHU TRỌNG HUYẾN
Hoàng Ngọc Kiểu @ 14:34 16/01/2012
Số lượt xem: 674
Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ
Phần hương đối án ổ mai hiên
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng,
Nguyệt mãn Bình Than, tửu mãn thuyền
(Quét tuyết đun trà bên trúc ổ,
Đốt hương đọc sách dưới mái hiên.
Đêm qua mộng vấn vương quê cũ,
Trăng đẫy Bình Than, rượu đẫy thuyền)
Nguyễn Du khi làm quan với nhà Nguyễn, ở một nơi xa cách, nhà thơ đã viết trong bài Sơn cư mạn hứng:
Nhất phiến hương tâm thiền cảnh hạ,
Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.
Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,
Bất kiến bình an nhất chỉ thư.
(Lòng quê lai láng gương thiềm soi,
Biệt lệ đầm đìa tiếng nhạn qua.
Lòng cũ người thân tin tức vắng,
Bình yên mấy chữ thấy đâu mà)
Bài viết này chỉ nói riêng về tình cảm quê hương trong thơ Hồ Chủ tịch.
Hơn nữa thế kỷ xa nhà đi hoạt động cách mạng, lúc trở về Người nói:
Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.
Và ta sẽ không hiểu hết về thơ Hồ Chủ tịch nếu nghĩ quê hương của Người chỉ là những thôn làng cụ thể như làng Sen, làng Chùa hay xứ Nghệ. Quê hương trong Người là một khái niệm thật rộng lớn. Một quê hương cụ thể chỉ thật sự vươn mình khi gắn bó với mọi miền đất nước và với cả thế gian. Đọc thơ Bác dù là những bài viết về cảnh trí và con người ở nơi hải ngoại thì mỗi chúng ta cũng như thấy các vần thơ ấy nói đến quê mình, có lẽ vì Người ngàn dặm trông tre nhớ làng, nhớ nước; trông cau nhớ cửa, nhớ nhà (Cổ ngôn).
Cảnh hương thôn trong thơ Bác luôn nồng ấm hơi thở và cuộc sống của con người cần lao. Bài Bán lộ tháp thuyền phó Ung (Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung) là một ví dụ:
Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm .
Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.
(Làng xóm ven sông đông đúc thế.
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh)
Đọc hai câu thơ này ta liên tưởng đến Lý Bạch trong Tảo phát Bạch đế thành
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất tận
Khinh chu dĩ quá vạn trùng sơn.
(Hai bờ tiếng vượn vừa xong
Thuyền con đã vượt vạn trùng nước non)
So sánh như vậy thật là quá khập khiễng vì đem một nhà thơ Mácxít ở thế kỷ XX mà so sánh với một thi tiên đời Đường của nước bạn Trung Hoa. Nhưng giữa quá khứ và đương đại vẫn có một sự giao cảm tự nhiên về thi ca.
Ở đây, điều làm ta thú vị là hình ảnh những bà con thân thuộc với tiếng nói, tiếng cười trong cảnh đông đúc, trong thao tác mưu sinh trên bộ, hoặc đang rẽ sóng nhẹ thênh thênh. Huyện Ung của Trung Quốc sao mà giống một địa phương cũng có ruộng đồng, có ao chuôm của làng Việt.
Trong bài Vịnh Thái Hồ (Trung Quốc), nhà thơ Hồ Chí Minh cũng nghĩ về một miền quê rất Việt với bát cơm, tấm áo, với hình ảnh người dân chài, với hoa, cỏ như ở một làng quê ven sông Lam, sông Hồng:
Ngư thuyền lai khứ triều dương noãn
Tang đạo mãn điền, hoa mãn thiên
(Thuyền cá đi về trong nắng sớm
Ruộng đầy dâu lúa, trời đầy hoa)
Rồi khi chiều về rộn những âm thanh báo hiệu trong bài Hoàng hôn của Người:
Viễn tự chung thanh thôi khách bộ
Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy
Trong bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế cũng có tiếng chuông nghe xa vắng
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo thành thuyền
(Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)
Bác cũng có những câu thơ về dạ bán (nửa đêm) khi từ chiến khu quy lai, nguyệt mãn thuyền. Cũng như trong bài Hoàng hôn thì tiếng chuông chùa không chỉ âm vang nơi thiền tự mà nó gắn liền với cuộc sống của người cần lao: Chùa xa chuông giục người nhanh bước. Tiếng chuông ở đây hòa với âm nhạc của mục đồng: Tiếng sáo bay giúp vào, làm cho con người năng động hơn. Đó là tiếng chuông từ làng Chùa, làng Sen, từ vùng quê đã sinh ra và nuôi lớn Người:
Đi qua vẳng tiếng chùa Bi
Nghe chuông chùa Đạt có khi hay gần.
và
Nhất là vui cảnh quê mình
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu.
Những buổi chiều hòa vào sức sống hồn hậu của con người còn đậu xuống thơ Hồ Chí Minh khi Người dừng chân trên đường. Qua bài Mộ (Chiều tối), ta hình dung ra môt thôn trang nào đó nhìn xuống những cánh đồng bắp của vùng đất Cây Chanh hay một quãng đồi ven sông Hiếu, sông Ngàn Sâu:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng)
Quê hương trong thơ Bác là những hình ảnh thật cụ thể gắn bó với cuộc sống đời thường, kể cả khi Người viết về núi rừng Tây Bắc:
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về thì chén thịt rừng quay
Non xanh nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt chè tươi mặc sức say
Đó cũng là nét sinh hoạt khi mà:
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu
Huề dũng, giai đồng quán thái viên
(Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau)
Ta vẫn tưởng đây là một khu vườn nhà ở làng Sen, làng Chùa.
Đọc bài Ức hữu (Nhớ bạn) của Người, ta thấy rõ càng đi xa thì nỗi lòng nhớ quê hương càng da diết, nhất là khi khách lữ thứ gặp phải bước hiểm nghèo. Bấy giờ người ta không thể quên được bạn bè, bà con và cả mùa màng:
Tích quân tống ngã chí giang tân
Vấn ngã quy kỳ chỉ cốc tân
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo
Tha hương ngã tác ngục trung nhân
(Ngày đi bạn tiễn đến ven sông
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng
Nay gặt đã xong, cày đã khắp
Quê người tôi vẫn chốn lao lung)
Một hôm trên đường công tác, khuya về nghe tiếng ru con từ trong một làng nhỏ, Bác viết những câu thơ thật bồi hồi:
Xa nhà chốc bất nhiên niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con.
Tình cảm quê hương trong thơ Bác thật rộng lớn và cũng rất cụ thể. Điều đáng chú ý hơn nữa là trong thơ Người, khi nghĩ đến nhà là nhớ đến nước, Bác viết trong bài Tức cảnh:
Tổ quốc chung niên vô tín tức
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm
(Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng
Tin tức bên nhà bữa bữa trông)
Trong Bài ca dân cày sáng tác năm 1941, Bác Hồ viết:
Dịp này là dịp trời cho
Lo cứu nước tức là lo cứu mình
Đó cũng là lời khuyên của Người trong Bài ca công nhân:
Thợ thuyền ta phải đứng ra
Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.
Mình là bản thân, là gia đình, gắn với quê hương, đất nước. Thơ trong nhật ký của Bác đã chỉ ra:
Mắt trông nước mất nhà tan
Giống nòi sỉ nhục, giang sơn thẹn thùng.
Thơ là kết tinh của nghệ thuật ngôn từ. Ngôn từ của Hồ Chủ tịch vừa bình dị vừa uyên bác. Về quê, Người dùng cả tiếng địa phương mình để giải thích cho bà con nông dân rõ những hiện tượng cao siêu, những vấn đề phức tạp. Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nhắc đến một nét suy nghĩ khi lần đầu được gặp Bác: “Điều làm cho tôi chú ý lúc bấy giờ là trong lời Bác nói có chen nhiều tiếng địa phương miền Trung. Không ngờ một người xa nước lâu năm như Bác mà vẫn giữ được tiếng nói quê hương.”
Thơ Bác viết về quê hương là những câu văn sâu nặng nghĩa tình mà rất dung dị, bình thường. Cũng như trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Bác, cái bình thường ấy đã tồn tại song song với cái vĩ đại của Người.
Bác viết về quê hương rất ít nên thơ Bác nói về quê hương lại càng hiếm. Đó là những viên ngọc quý nên chúng ta cần trân trọng gìn giữ và phải làm cho các vần thơ đó ngày càng lung linh tỏa sáng.
CHU TRỌNG HUYẾN
Hoàng Ngọc Kiểu @ 14:34 16/01/2012
Số lượt xem: 674
Số lượt thích:
0 người
- KỶ NIỆM MỘT CHUYẾN THAM QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ (22/11/11)
- Thầy cô cho em mùa xuân ! (06/11/11)
- CHÚC MỪNG SINH NHẬT CHỊ XUÂN SANG- 54 MÙA XUÂN NHƯ Ý ! (29/10/11)
- CHÚC MỪNG SINH NHẬT WEB THẦY THỌ CƯƠNG (12/09/11)
- Lưu dấu kỷ niệm 2 (08/09/11)
Tình cảm quê hương trong thơ Hồ Chủ tịch...